This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những lưu ý khi mắc sỏi thận

Sỏi thận có thể gây những biến chứng nguy hiểm do không được phát hiện và điều trị kịp thời. Nhưng ngay cả khi đã được điều trị, vẫn có khoảng 30% người bị sỏi thận tái phát vì không biết chế độ dinh dưỡng như thế nào để phòng tránh.

Khi bị sỏi thận, đối với những viên sỏi nhỏ thì có thể tự ra ngoài theo đường nước tiểu, còn những viên sỏi lớn thì sẽ tụ lại ở trong thận. Theo thời gian các viên sỏi sẽ càng lớn hơn và gây tắc đường tiết niệu làm suy giảm chức năng của thận và có khả năng lớn gây ra suy thận. Và sỏi có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm sau đây:

Tắc đường nước tiểu

Các viên sỏi được hình thành trong đường nước tiểu như: bể thận, đài thận đều có thể rơi vào niệu quản hoặc niệu đạo và gây ra tắc đường nước tiểu. Trong khi đó, niệu quản sẽ cố gắng co bóp mạnh để tống các viên sỏi ra khỏi chỗ bị tắc nghẽn. Việc này sẽ tạo ra những cơn đau quặn thận tại những vùng như mạng sườn, hông và có thể lan tỏa tới tận háng. Ngoài ra, sỏi thận còn gây ra những hiện tượng như niệu quản ứ nước hay thận ứ nước. Nếu những viên sỏi được lấy ra kịp thời thì hiện tượng đau này sẽ bị mất đi. Còn nếu không được lấy ra sau một thời gian thận bị ứ nước kéo dài thận sẽ bị suy giảm chức năng không có khả năng phục hồi nữa nên dù đã khỏi bệnh thận vẫn sẽ bị ứ nước ở cấp độ một hoặc hai, và cuối cùng là có hiện tượng bí tiểu.

Sỏi thận có thể gây tắc đường tiểu.

Sỏi thận có thể gây tắc đường tiểu.

Nhiễm trùng đường tiết niệu

Niệu đạo là nơi các vi trùng tập trung và phát triển nên các viên sỏi nằm trong hệ niệu sẽ gây ra nhiễm trùng. Với những trường hợp bị nhiễm trùng nhẹ, các triệu chứng có thể là đau lưng, tiểu dắt, xét nghiệm nước tiểu có thể thấy bạch cầu đơn nhân hoặc đa nhân. Những trường hợp nhiễm trùng nặng hơn thì người bệnh có thể sẽ bị đi tiểu ra mủ, sốt cao. Nếu người bệnh vừa bị tắc đường nước tiểu và nhiễm trùng thì thận có thể bị ứ mủ hoặc hóa mủ (viêm mủ bể thận).

Bệnh nhân mắc bệnh sỏi thận nếu không được phát hiện sớm dẫn đến bị nhiễm trùng thì việc chữa bệnh sỏi thận sẽ gặp rất nhiều khó khăn và thời gian kéo dài. Ở giai đoạn đầu tiên, các bác sĩ chỉ đặt ống dẫn lưu vào thận để dẫn lưu mủ ra ngoài, chờ sau khi tình trạng nhiễm trùng giảm đi, bệnh nhân khá hơn thì mới có thể điều trị tiếp.

Suy thận cấp và mạn tính

Những trường hợp hai quả thận của bệnh nhân đều bị suy cùng một lúc dẫn đến tình trạng không có một giọt nước tiểu nào trong bàng quang, kéo dài trong vài ngày bệnh nhân có thể bị tử vong. Việc nhiễm trùng và bị ứ nước lâu ngày người bệnh có thể bị hủy hoại nhu mô thận.

Mất khoảng 50% đơn vị thận người bệnh vẫn có thể sống khỏe mạnh bình thường, nhưng nếu mất 75% đơn vị thận tình trạng bị suy thận sẽ xuất hiện. Lúc này người bệnh phải dùng các biện pháp tốn kém để duy trì tính mạng như chạy thận hay ghép thận.

Vỡ đáy đài thận

Trường hợp bị vỡ đáy đài thận xảy ra khi thận bị ứ nước nhiều mà vách thận lại mỏng. Tuy nhiên đây là trường hợp hiếm gặp.

Người bệnh bị sỏi thận cần phải được thăm khám và phát hiện sớm để điều trị bệnh kịp thời. Để tránh những biến chứng của suy thận, cần phải điều trị sớm và dứt điểm để phục hồi các chức năng của thận. Trong quá trình điều trị, người bệnh cũng cần phải ăn uống cẩn thận để tránh sỏi thận tái phát.

Những lưu ý với người mắc sỏi thận khi ăn uống

Sỏi thận có nhiều loại, trong đó sỏi canxi chiếm 80-90%, gồm có sỏi canxi oxalat, canxi phosphat và canxi oxalat phosphat. Ngoài những loại sỏi phổ biến trên thì còn nhiều loại sỏi ít gặp như sỏi struvit, sỏi acid uiric, sỏi cystin. Hầu hết các bệnh nhân bị sỏi thận chính là sỏi canxi nên chỉ cần kiêng ăn các chất có nhiều canxi là có thể tránh được sỏi thận. Nhưng hậu quả là cơ thể bị thiếu canxi sẽ gây ra loãng xương, rụng tóc và suy nhược thần kinh....

Do đó, mọi người không nên kiêng cữ quá mức các thực phẩm có nhiều canxi vì như thế sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Đối với người trưởng thành bình thường, mỗi ngày cần 1.000mg canxi. Trong các giai đoạn phát triển, nhu cầu canxi có thể sẽ nhiều hơn như:

Người bệnh đã và đang mắc bệnh sỏi thận nên giới hạn lượng canxi mỗi ngày cần khoảng 900mg là đủ.

Hiện nay, có nhiều người mắc bệnh sỏi thận vì muốn tốt cho xương nên vẫn sử dụng các loại sản phẩm có nhiều canxi. Nhưng các loại thuốc có canxi ở dạng đặc nên cơ thể rất dễ hấp thụ dẫn đến thừa canxi. Người bệnh nếu đã bị sỏi thận canxi thì nên tránh xa các sản phẩm chứa nhiều canxi mà nên bổ sung canxi tự nhiên từ các thực phẩm ăn uống hàng này, và người bệnh cần phải kiểm tra định kỳ lượng canxi có trong máu và siêu âm thận thường xuyên. Các thực phẩm có nhiều canxi bao gồm: xà lách, hạt dẻ, quả ô-liu, các loại sữa, đậu tương, đậu trắng, sôcôla, các loại hải sản như ngao, sò, ốc, hến, tôm, cua, ghẹ, các loại hoa quả như vải, mận, hạnh nhân...

Trong quá trình giảm ăn, người bệnh chỉ cần giảm các món từ sữa như sữa, bơ, kem, pho mát vì chúng sẽ làm cơ thể tăng hấp thu canxi khoảng 20 lần qua đường ruột. Các loại hải sản như tôm, cua ghẹ... thỉnh thoảng ăn cũng không sao.

Các loại thực phẩm người bệnh cần phải hạn chế

Loại thực phẩm có nhiều chất oxalat: rau muống, củ cải, củ niễng, dưa chuột, cà phê, trà đặc, chocolate, dâu tây, me chua.

Loại thực phẩm có nhiều chất phosphat: đậu nành, đậu Hà Lan, ca cao, đậu tương, các loại gan, các loại bơ...

Không được tự ý bổ sung vitamin D trừ khi có sự chỉ định của bác sĩ.

Người bệnh cần phải có chế độ dinh dưỡng riêng.

BS. Lê Sĩ Trung

Ù tai

Trong khi đó, cơ chế gây bệnh chưa được tìm hiểu rõ ràng nên biểu hiện ù tai đến nay vẫn là một thách thức điều trị với thầy thuốc mọi chuyên ngành.

Ù tai có thường gặp không?

Ù tai chia làm hai loại là ù tai chủ quan và ù tai khách quan.

Ù tai chủ quan: Ù tai chỉ bệnh nhân nghe thấy. Đây là loại hay gặp nhất, nó có thể gây ra bởi những bệnh lý của tai ngoài, tai giữa và tai trong. Ù tai có thể gây ra bởi dây thần kinh nghe (dây VIII) hoặc não.

Ù tai khách quan: Người khám cũng nghe thấy, chủ yếu là do các vấn đề về mạch, bệnh hệ thống xương của tai giữa hoặc do co cơ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, ù tai chiếm tới 25% dân số và tỷ lệ này tăng lên từ 45 – 60% ở người trên 60 tuổi. Trong cuộc sống công nghiệp, thường xuyên chịu áp lực, stress từ cuộc sống, môi trường tiếng ồn cao trên ngưỡng của sức nghe, các bệnh lý tai mũi họng càng ngày càng tăng... làm cho triệu chứng ù tai hiện tại là một trong những biểu hiện mà người bệnh hay đến khám. Ù tai là cảm giác nghe thấy tiếng ồn hoặc tiếng kêu trong tai, có thể kèm theo nghe kém và chóng mặt. Nguyên nhân có thể do dáy tai lâu ngày bít lấp ống tai ngoài hoặc do chấn thương rác h ống tai ngoài, màng nhĩ, chuỗi xương con... Ù tai khiến người bệnh có cảm giác khó chịu, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, người bệnh đôi khi không mô tả được tiếng ù, nếu mô tả thì thường là có tiếng nhạc, lúc thanh, lúc trầm hoặc như tiếng ve kêu, dế kêu, còi tàu, tiếng mạch đập, tiếng cối xay...

Ù tai Dị vật trong tai là một nguyên nhân gây ù tai.

Nguyên nhân gây ù tai

Tùy theo loại ù tai để người thầy thuốc đi tìm nguyên nhân, với những ù tai có nguyên nhân có thể can thiệp được. Cách xuất hiện cảm giác ù tai có thể là đột ngột hoặc tiến triển dần dần lúc đầu từng đợt sau đó xuất hiện liên tục.

Ù tai do viêm tai ngoài, dị vật tai ngoài (viêm tấy, nút dáy, dị vật), do viêm tai giữa (viêm tai giữa cấp, viêm tai giữa thanh dịch, xốp xơ tai giai đoạn đầu), do viêm tắc vòi tai (do viêm xoang, rối loạn chức năng vòi do suy nhược), ù tai do tai trong như viêm mê nhĩ cấp... Hoặc những ù tai do tăng huyết áp, kích thích gây giãn hệ thống mạch máu xung quanh cấu trúc của tai là những ù tai có thể chữa được nếu giải quyết được các nguyên nhân gây bệnh.

Ù tai do tổn thương dây thần kinh thính giác, do tổn thương tai trong không hồi phục (viêm mê nhĩ mủ, rò ống bán khuyên, tiếp xúc tiếng ồn, lão thính, ngộ độc ốc tai do thuốc, hóa chất), ù tai trong các bệnh lý ung thư vòm, do các bệnh lý của não (điều hành trung tâm nghe) hoặc bệnh lý tâm thần như ảo thanh thường chỉ giảm được cảm giác ù hoặc không chữa được.

Ứng phó thế nào?

Ù tai không chỉ thuộc chuyên khoa tai - mũi - họng, mà có liên quan đến nhiều chuyên khoa khác như tim mạch, nội tiết, chấn thương, ung bướu. Tuy nhiên, có đến trên 80% là các nguyên nhân từ bệnh thuộc chuyên khoa tai mũi họng. Nếu bạn có biểu hiện này nên đến khám bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để xác định nguyên nhân ù tai (nếu có) để chữa trị và bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng sẽ là người định hướng nếu nguyên nhân thuộc chuyên khoa nào sẽ gửi người bệnh tới chuyên khoa phù hợp để hỗ trợ. Ù tai ảnh hưởng tới toàn trạng với nhiều mức độ khác nhau: Mất ngủ, khó tập trung, trầm cảm, bực bội...

Nên có thói quen sinh hoạt lành mạnh, tập thể dục đều đặn, giúp cho máu đến vùng đầu cổ tốt. Tránh uống rượu và những thứ có rượu, thuốc lá, chất caffeine...

Có chế độ ăn hợp lý như ăn bớt mặn, nghỉ ngơi đầy đủ, nếu phải làm việc trong môi trường tiếng ồn phải có trang bị phòng hộ như nút tai, nghỉ ngơi thính giác hợp lý. Kiểm soát huyết áp tốt với sự giúp đỡ của bác sĩ tim mạch.

Các bác sĩ có thể phối hợp thêm các thuốc hoặc một số phương pháp như mát-xa tai, sử dụng phương pháp che lấp bằng máy phát tiếng động.

BS. Lê Minh Giang

12 điều nên làm để có những ngày nghỉ vui khỏe

1.Rửa tay thường xuyên để ngừa mầm bệnh lây lan; mùa này là mùa cúm, rửa tay bằng xà phòng và để tay dưới dòng nước chảy ít nhất 20 giây.

2.Kiểm soát stress: hãy nghỉ ngơi khi bạn cảm thấy stress, mệt mỏi, mất kiểm soát. Một số cách giúp bạn kiểm soát cơn stress là tìm đến sự hổ trợ, chia sẻ của người thân, kết nối với cộng đồng và ngủ nhiều

3.Không dùng bia rượu khi lái xe và cũng không để người uống bia rượu chở bạn đi, có thể gặp nguy hiểm trên đường đi chơi

4.Giữ ấm cơ thể khi ra ngoài dưới thời tiết lạnh nên mặc đủ ấm, mang vớ, găng tay, khăn choàng cổ, giày ủng...

5.Không hút thuốc: tránh hút thuốc và hút thuốc thụ động, cả hai đối tượng này đều có nguy cơ cao về bệnh tật, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe 6.Thắt dây an toàn khi ngồi xe hoặc lái xe di chuyển trên các phương tiện 7.Tư vấn các chuyên gia chăm sóc sức khỏe xem cần làm gì, cập nhật tình trạng sức khỏe cho cả gia đình, đăng ký mua bảo hiểm y tế nếu bạn chưa có 8.Tiêm vaccine phòng bệnh , hàng năm nên tiêm phòng ngừa cúm 9.giám sát trẻ em: không cho trẻ chạm tay tới những đồ chơi , đồ ăn, thức uống, dụng cụ nhà bếp, hoặc những đồ vật...tiềm ẩn những nguy cơ. Bảo vệ tốt trẻ em, không để cho té, ngã, phỏng... 10.Phòng cháy nổ: các tai nạn về lửa cũng có thể xảy ra trong mùa lạnh, vì vậy không nên bỏ mặc bếp , lò sưởi, thức ăn đang nấu trên lò, đèn cầy đang cháy...mà thiếu sự giám sát 11.Chuẩn bị thức ăn an toàn: rửa tay & đồ dùng thường xuyên để tránh lây mầm bệnh, nấu thức ăn chín kỹ, bảo quản trong tủ lạnh các loại thực phẩm thích hợp. 12. Ăn uống lành mạnh, sống năng động : dùng nhiều rau, trái cây, giảm chất béo , chất muối, đường trong khẩu phần hàng ngày. Sống năng động, vận động , ra ngoài hít thở khí trời ít nhất 1 giờ mỗi sáng.

DS Bùi ngọc Lan Hương

Lược dịch theo CDC

DS Bùi Ngọc Lan Hương

8 cách phòng bệnh viêm phổi ở người già khi giao mùa

Khi thời tiết thay đổi đột ngột, quá nóng hay quá lạnh, hay khi thời tiết chuyển mùa thường có dịch bệnh nhiễm siêu vi cúm và sau đó là viêm phổi, nhất là ở người già hay người có nhiều bệnh, giảm sức đề kháng. Người cao tuổi khi đã mắc bệnh viêm phổi thường có triệu chứng bệnh âm thầm, phức tạp nhưng thường diễn tiến nhanh và có nhiều biến chứng nặng, việc điều trị cũng khó khăn và lâu dài vì thường có các bệnh mạn tính đi kèm.

Khoa Cấp cứu Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (BV. ĐHYD) thường xuyên tiếp nhận bệnh viêm phổi ở người già. Bệnh nhân Đặng Văn T., 69 tuổi, ở Cai Lậy - Tiền Giang, đến bệnh viện trong tình trạng mệt nhiều kèm ho húng hắng. Sau khi về hưu với thú vui kiểng cảnh, bác cùng với con cháu chăm sóc vườn cảnh của gia đình như là niềm vui không thể thiếu. Túc trực chăm sóc mai, sau đó, bác mệt, cả ngày không ăn uống, ho húng hắng. Bác cũng tự mua thuốc cảm thông thường uống nhưng vẫn thấy mệt nhiều và ho nhiều kèm theo khó thở. Bác cùng con gái út đến BV. ĐHYD khám để được uống thuốc cho khỏe. Đường từ Tiền Giang đến Sài Gòn làm bác mệt nhiều, khó thở hơn. Vừa vào cấp cứu để được thở oxy khoảng 2 giờ, bác và gia đình ngạc nhiên khi được bác sĩ thông báo phải nhập viện vì bệnh viêm phổi. Bác nghĩ mình chỉ bị cảm nặng do mưa nắng, không nghĩ viêm phổi vì bác không có dấu hiệu sốt. “Tôi từng bị viêm phổi hồi trẻ và cũng nuôi con bệnh nhiều lần, mỗi lần viêm phổi chúng sốt cao lắm”, bác T. tâm sự. Gia đình và bác có nguyện vọng về nhưng khi bác sĩ giải thích kết quả xét nghiệm và hình chụp X-quang ngực khiến bác và cả nhà giật mình, đành phải ở bệnh viện lâu dài nếu không sẽ biến chứng trầm trọng hơn, có thể không qua khỏi.

BS.CKI. Nguyễn Viết Hậu - Phó trưởng khoa Cấp cứu BV. ĐHYD cho biết thêm đây là tình trạng viêm phổi cộng đồng điển hình (viêm phổi mắc phải ngoài cộng đồng). Ở người lớn tuổi, sức đề kháng giảm, phản ứng của cơ thể với tình trạng nhiễm trùng cũng ít rầm rộ, thường không sốt, không ho đàm nhiều, đôi khi chỉ là ho ít và ớn lạnh như một cảm cúm thông thường. Điều này dễ làm người bệnh và thân nhân chủ quan.

8 cách phòng bệnh viêm phổi ở người già khi giao mùaẢnh minh họa

Những khuyến cáo

Theo PGS.TS.BS. Lê Tiến Dũng - Trưởng khoa Hô hấp BV. ĐHYD, khi thời tiết thay đổi đột ngột, quá nóng hay quá lạnh, hay khi thời tiết chuyển mùa thường có dịch bệnh nhiễm siêu vi cúm và sau đó là viêm phổi, nhất là ở người già hay người có nhiều bệnh, giảm sức đề kháng. Người già khi đã mắc bệnh viêm phổi thường có triệu chứng bệnh âm thầm, phức tạp nhưng thường diễn tiến nhanh và có nhiều biến chứng nặng, việc điều trị cũng khó khăn và lâu dài vì người già thường có các bệnh mạn tính đi kèm. Do vậy, việc phòng bệnh viêm phổi khi thời tiết thay đổi đột ngột rất quan trọng nhằm ngăn ngừa tối đa mức tăng nặng của bệnh và biến chứng nguy hiểm gây tử vong.

Thường không sốt, không ho đàm nhiều, đôi khi chỉ là ho ít và ớn lạnh

Chính vì vậy người già, người có nhiều bệnh, người suy giảm sức đề kháng, cần lưu ý 8 cách phòng bệnh viêm phổi khi giao mùa.

Thứ nhất là rửa sạch tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi đại tiện, xì mũi, hắt hơi, trước khi ăn uống.

Thứ hai là sử dụng nguồn nước sạch hàng ngày, luôn bảo đảm một ngày bổ sung đầy đủ từ 1,5 - 2 lít nước. Việc làm này không chỉ giúp thanh lọc cơ thể mà còn giúp đào thải những độc tố gây hại có nguy cơ phát bệnh viêm phổi.

Thứ ba, người già nên tránh sử dụng rượu bia, thuốc lá vì đó là nguyên nhân gây phá hủy phổi, giảm chức năng hô hấp của cơ thể, đồng thời tăng nguy cơ mắc bệnh lý viêm nhiễm khác.

Thứ tư nên giữ gìn môi trường xung quanh vệ sinh sạch sẽ, thoáng mát nhằm khử sạch vi khuẩn, virút là mầm mống gây nên bệnh lý hô hấp nhiễm khuẩn, tránh tiếp xúc với môi trường nhiều khói bụi, độc hại.

Thứ năm nên giữ gìn cơ thể đủ ấm theo tiêu chí ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, giữ ấm cổ, ngực, bàn chân, bàn tay. Ngoài ra, chú ý không nên để bếp lò sưởi ấm trong nhà dễ gây viêm phổi. Về mùa hè, nên để điều hòa ở nhiệt độ thích hợp là 250C, không nên để thấp quá gây chênh lệch môi trường bên ngoài dễ dẫn tới viêm họng, viêm phổi và gây đột quỵ cho người già.

Thứ sáu là bổ sung dinh dưỡng phù hợp bằng cách sử dụng các loại rau xanh, trái cây tươi đảm bảo đầy đủ vitamin A, C, E, canxi, khoáng chất, chất xơ có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch.

Thứ bảy, tiêm phòng vắc-xin cúm hoặc phế cầu trên những người có chỉ định, đặc biệt ở những trường hợp có bệnh phổi mạn, suy tim, cắt lách, tuổi trên 65 nhằm dự phòng bệnh viêm phổi, các chứng viêm nhiễm đường hô hấp ở người già.

Thứ tám cần kiểm soát tốt các bệnh lý mạn tính như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy tim, đái tháo đường.

THU HÀ

Đau đầu, Mất ngủ, Suy giảm trí nhớ do Thiếu Máu Não

Không chỉ người cao tuổi, thiếu máu não nguyên nhân do thoái hóa đốt sống cổ dần xuất hiện càng nhiều ở độ tuổi 26 - 35 (hình minh họa)

Đau đầu, chóng mặt, thiếu máu não – Hậu quả của thiếu máu kinh niên, và chất lượng máu xấu.

Theo thống kê thì phần lớn Phụ nữ việt nam đều trong tình trạng thiếu máu, chất lượng máu xấu do tác động từ việc chế độ dinh dưỡng, áp lực về công việc và đặc biệt là mất máu do sinh nở và chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng. Vì các nguyên nhân trên nên khi muốn cải thiện bệnh lý về thiểu năng tuần hoàn não và thiểu năng tuần hoàn ngoại vi thì phải cải thiện chế độ dinh dưỡng dùng các thực phẩm giàu sắt ngoài ra nên sử dụng thực phẩm chức năng giúp bổ máu, hoạt huyết, bổ não tăng cường trí nhớ và phòng ngừa tai biến.

Theo lời chị H chia sẻ: “Tình trạng của tôi chuyển biến nặng dần dần nên ban đầu không cảm nhận rõ rệt được mình bị thiểu năng tuần hoàn máu não. Khi được kết luận bệnh như thế, tôi cũng chú ý nhiều hơn đến biểu hiện sức khỏe và quan tâm đến giải pháp đông dược để trị căn bệnh này. Lý do thiếu máu, chất lượng máu kém gây nên hiện tượng thiểu năng tuần hoàn máu não được các chuyên gia khám nêu bởi trong suốt quá trình sống, ăn uống, làm việc và chịu tác động của việc sinh nở và chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng nên lưu lượng máu cung cấp lên não sẽ bị giảm gây hiện tượng đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, trí nhớ suy giảm… . Lúc đó, vừa lo cho sức khỏe bản thân, vừa chỉ mong có giải pháp triệt để từ thiên nhiên để an toàn và an tâm trị bệnh”

Theo nguyên lý YHCT, cơ thể muốn khỏe mạnh, khí huyết phải đầy đủ và lưu thông. Khí hành thì huyết hành, khí ngưng thì huyết trệ. Khí huyết ngưng trệ thì tuần hoàn máu não bị rối loạn, máu lưu thông kém tới các bộ phận, tổ chức, não bộ, oxy và dưỡng chất không được cung cấp đầy đủ, chất thải ứ đọng gây suy yếu, tổn thương khó phục hồi là nguyên nhân gây nhiều bệnh khác nhau trong đó có bệnh thiểu năng tuần hoàn não. Để trị dứt điểm căn bệnh thiếu máu não này, cần đảm bảo các yếu tố:

- Bổ Máu: Cơ thể đủ máu

- Hoạt Huyết: Làm sạch thành mạch máu để đưa máu tốt đưa các dưỡng chất đi nuôi cơ thể.

- Bổ Não: Bổ sung các dưỡng chất tốt cho các tế bào thần kinh

- Bền thành mạch, giảm cholesteron trong máu để chống tai biến.

- Chống gốc tự do, phá tan huyết khối

- Chống lão hóa, tốt cho tim mạch

“Sau đó, tôi quyết định ra quầy thuốc thì được tư vấn và giải thích về các giải pháp thảo dược trị chứng thiếu máu não như tôi. Một mặt, tôi phải kết hợp chế độ vận động hợp lý, đúng khoa học cải thiện được chất lượng cuộc sống. Một mặt, tôi được hướng dẫn đánh giá và tham khảo những thành phần hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh này như:

- Cao Đương quy, cao Hà thủ ô giúp bổ máu

- Natokinase, Ginkgo biloba giúp hoạt huyết mạnh và làm giảm nguy cơ hình thành huyết khối

- Cao viễn chí, Bluberry extract, Citicoline-30mg giúp bổ não và nuôi dưỡng tế bào thần kinh, chống gốc tự do

- Rutin và Vitamin C giúp bền thành mạch giúp mạch máu dẻo dai hơn để tránh nguy cơ bị xơ vỡ thành mạch.

Khi lựa chọn sử dụng sản phẩm kết hợp các thành phần trên đã mang lại hiệu quả rất tốt với tình trạng của tôi đúng như chia sẻ của cô dược sĩ đã chăm sóc cho những người thiếu máu, thiểu năng tuần hoàn não. Khi dùng thường xuyên sẽ giúp Bổ mãu, hoạt huyết, tăng cường lưu thông máu lên não và toàn thân giúp cơ thể khỏe mạnh, đầu óc minh mẫn, và giảm các nguy cơ xơ vỡ động mạch.

Để nắm rõ hơn về những địa chỉ bán chế phẩm Uni BrainCare mà tôi đã sử dụng hiệu quả, các bạn có thể tìm hiểu thêm tại website: DuocPhamUni.vn

UNI BRAINCARE

HOẠT HUYẾT, BỔ HUYẾT, CẢI THIỆN HIỆU QUẢ TRIỆU CHỨNG THIẾU MÁU NÃO

Uni Brain Care được bào chế từ các vị thuốc, bài thuốc cho chứng thiếu máu não: Cao Đương quy, cao Hà thủ ô, Natokinase, Ginkgo biloba, Cao viễn chí, Bluberry extract, Citicoline-30mg, Rutin và Vitamin C… mang lại hiệu quả hoạt huyết và bổ huyết có tác dụng nâng cao hiệu quả điều trị thiếu máu và rối loạn tuần hoàn máu theo nguyên lý y học cổ truyền: “hư phải bổ”, “tắc phải thông”, “rối loạn phải điều hoà.”

Sản phẩm của CT TNHH Dược phẩm Unipharma

GPQC: 00330/2017/ATTP-XNQC

Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Trị viêm đại tràng mạn tính do amip, thuốc gì?

Tôi đi khám và cũng mất khá nhiều thời gian mới phát hiện ra bị viêm đại tràng do amip. Mặc dù đã được dùng thuốc điều trị nhưng cho đến nay thỉnh thoảng bệnh vẫn tái nhiễm. Tôi có thể dùng thuốcgì để điều trị triệt để bệnh này?

Nguyễn Quang Tuấn (Thái Bình)

Bệnh viêm đại tràng mạn tính do amip thường dai dẳng, cứ vài tuần hoặc vài tháng lại xảy ra một đợt cấp tính. Trong các trường hợp đau bụng, đi ngoài phân có nhầy nhớt và có máu, nhất thiết người bệnh phải vào nằm viện để được theo dõi và điều trị kịp thời. Diễn tiến của đợt cấp tính kéo dài từ vài ngày đến vài tuần tùy theo việc điều trị được tiến hành sớm hay muộn. Về điều trị, có các thuốc sau:

Emetin là thuốc có tác dụng cản trở không hồi phục quá trình tổng hợp protein của amip, do đó có khả năng diệt được amip. Tuy nhiên, thuốc có nhiều độc tính và tích tụ trong cơ thể, đặc biệt là gây độc tính ở tim, thận và hệ thần kinh nên hiện nay ít dùng và được thay thế bằng dẫn chất tổng hợp là dehydroemetin ít độc hơn.

Nhóm thuốc imidazole có khả năng khuếch tán, thâm nhập sâu vào bên trong và phá hủy hay ức chế sự tổng hợp AND của ký sinh trùng. Loại thuốc này có ưu điểm diệt được cả thể kén và thể đơn bào amip. Nhưng vì điều trị viêm đại tràng do amip thường phải dùng thuốc một thời gian dài cho nên khi dùng thuốc kéo dài cần lưu ý vì có thể gặp tác dụng phụ như chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị, nổi mày đay... các dấu hiệu này thường nhẹ và hết sau khi ngừng và khi cơ thể đào thải hết thuốc.

Nhóm di-iodohydroxyquinolin là những thuốc trị amip hiệu quả. Tác dụng phụ có thể gặp là buồn nôn, đau dạ dày, dị ứng da, có thể gây rối loạn chức năng tuyến giáp.

Ngoài ra, trong dân gian còn dùng một số thuốc Đông y như hạt và vỏ của cây mộc hoa trắng, thừng mực lá to, sừng trâu, vỏ cây hậu phác, chiêu liêu, hoàng cầm… trong điều trị bệnh lỵ do amip.

Để điều trị bệnh do amip đạt hiệu quả cao, việc chọn lựa loại thuốc gì, hàm lượng cụ thể như thế nào nhất thiết phải do thầy thuốc chỉ định cụ thể, người bệnh không được tự ý dùng thuốc để tránh những tác dụng không mong muốn của các loại thuốc diệt amip. Phòng bệnh chủ yếu là ăn chín uống sôi; rửa rau nhiều nước và kỹ dưới vòi nước chảy; rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; nên cắt móng tay ngắn và không dùng phân tươi bón cho các loại rau…

ThS. Nguyễn Thu Hiền

Đau nửa đầu

Giả thiết 1: cơn đau nửa đầu chỉ là bệnh đau đầu thông thường?

Sự thật: đau nửa đầu là một bệnh thần kinh di truyền đặc trưng xuất hiện từng cơn. Nhức đầu chỉ là một triệu chứng và không phải lúc nào cũng nghiêm trọng. Đôi khi các cơn đau nửa đầu có thể diễn ra mà không có đau. Trong thực tế, khi chẩn đoán chứng đau nửa đầu bác sĩ phải quan tâm đến các dấu hiệu khác ngoài nhức đầu.

Giả thiết 2: chỉ có phụ nữ mới bị đau nửa đầu?

Sự thật: phụ nữ, đàn ông, bé trai, bé gái ai ai cũng có thể bị đau nửa đầu. Ở tuổi thiếu niên căn bệnh này diễn ra ngang bằng giữa hai giới. Sang giai đoạn thanh niên, 18% số phụ nữ bị mắc bệnh còn đàn ông chỉ có 8%.

Giả thiết 3: chỉ có người lớn mới bị đau nửa đầu?

Sự thật: bệnh đau nửa đầu có thể diễn ra ở mọi lứa tuổi. Một số trẻ bị đau nửa đầu ngay từ khi còn nhỏ nên không thể nói cho người xung quanh biết. Khi chẩn đoán bệnh ở trẻ em người ta phải chú ý đến bệnh sử gia đình và quan sát hành vi của trẻ. Đau nửa đầu cũng có thể tiếp diễn ở mọi lứa tuổi.

Giả thiết 4: bệnh đau nửa đầu không kéo dài quá một ngày ?

Sự thật: mặc dù chứng đau nửa đầu thường kéo dài từ 4 - 72 giờ, nhưng đôi khi có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, thậm chí hàng tháng. Nếu đau kéo dài trên 72 giờ, được gọi là đau nửa đầu dạng migren (migrainosus), cần tư vấn bác sĩ để có biện pháp điều trị kịp thời. Tại Mỹ, hiện có trên 6,4 triệu người mắc chứng đau nửa đầu mãn tính, đau nửa đầu hoặc đau đầu ít nhất 15 ngày một tháng, 8 ngày trong số này là đau nửa đầu.

Giả thiết 5: đau nửa đầu không đe dọa tính mạng?

Sự thật: đau nửa đầu có thể không đe dọa tính mạng, nhưng biến chứng có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Cá biệt, có trường hợp phát sinh nhồi máu migren khi đau nửa đầu kèm tiền triệu. Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa chứng đau nửa đầu và đột quỵ cũng như các bệnh tim mạch khác và là thủ phạm gia tăng các vụ quyên sinh, tự tử ở những người không tìm được lối thoát.

Giả thiết 6: bất kỳ bác sĩ nào cũng có thể chẩn đoán chính xác và điều trị bệnh đau nửa đầu?

Sự thật: theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố 2011, thiếu kiến thức giữa các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chính là rào cản lâm sàng trong điều trị bệnh đau đầu, trong đó có đau nửa đầu. Báo cáo cũng tiết lộ, đào tạo các chuyên gia điều trị toàn bộ chứng rối loạn đau đầu rất đơn giản, chỉ cần 4 giờ là có thể tác nghiệp được.

Giả thiết 7: chỉ có một số nhóm người hay bị đau nửa đầu?

Sự thật: trong quá khứ, người ta đồn thổi những người bị đau nửa đầu thường có các cá tính và phản ứng riêng. Qua nghiên cứu cho thấy, chứng đau nửa đầu mang tính di truyền và thần kinh, tuy nhiên giả thuyết này hiện đang tranh cãi.

Giả thiết 8: đau nửa đầu thường cảm nhận được tiền triệu?

Sự thật: theo nghiên cứu, chỉ có 25 - 30% nhóm người đau nửa đầu cảm nhận được tiền triệu, tức hình ảnh, mùi vị, hoặc một cảm nhận giác quan không bình thường báo hiệu cơn đau nửa đầu sắp diễn ra. Hầu hết những người được chẩn đoán bệnh đau nửa đầu mà không có tiền triệu.

Giả thiết 9: con người bất lực về chứng đau nửa đầu?

Sự thật: đáng buồn, ngay cả một số bác sĩ cũng tin điều này. Hiện tại chưa có cách chữa dứt điểm bệnh đau nửa đầu, nhưng y học tin rằng con người sớm muộn sẽ điều trị được căn bệnh nói trên một khi tìm ra nguyên nhân cụ thể.

Đến nay nguyên nhân đau nửa đầu y học chưa biết hết, giả thuyết được chấp nhận phổ biến là bệnh lý của hệ thống thần kinh có liên quan đến chất truyền dẫn thần kinh serotonin. Chứng đau nửa đầu cũng rất đa dạng, một số bắt nguồn từ thân não (với sự rối loạn vận chuyển ion canxi và kali), trong khi đó một số lại do di truyền. Nghiên cứu các cặp song sinh cho thấy 60 - 65% có sự ảnh hưởng của di truyền. Ngoài ra, thay đổi nồng độ hoóc-môn cũng có liên quan đến đau nửa đầu ở 75% bệnh nhân là phụ nữ trưởng thành. Đôi khi đau nửa đầu có xu hướng biến mất khi đang mang thai, nhưng ở một số phụ nữ đau nửa đầu lại xuất hiện nhiều hơn trong khi mang thai. Thậm chí động vật, nhất là loài gậm nhấm cũng có thể mắc căn bệnh này.

Giả thiết 10: tất cả các cơn đau nửa đầu đều giống nhau?

Sự thật: không đúng. Trước tiên, chứng đau nửa đầu của mỗi người một khác. Thứ hai, bản thân từng cơn đau cũng không đồng nhất, cơn trước khác cơn kế tiếp. Và, thứ ba, có nhiều dạng đau khác nhau, như cơn đau chính, cơn đau phụ. Ví dụ, có nhiều cơn đau phụ lại kèm cả tiền triệu: như đau nửa đầu với tiền triệu gốc não, rời rạc và liệt nửa người có tính di truyền và đau nửa đầu võng mạc.

Đến nay, nguyên nhân đau nửa đầu y học chưa biết đến.Sự thật 18% số phụ nữ mắc bệnh còn đàn ông chỉ có 8%

Khắc Nam

(Theo HCC- 11/2015)